True Art VII – Bữa tiệc tại dinh thự Bollevard


– Shil không đi được rồi, chán quá! Em cũng không muốn đi
Hel tiu nghỉu chống hai tay vào cằm nhìn ra ngoài cửa sổ với đôi mắt chán chường, nó muốn Shilvia cùng đi tới bữa tiệc BreakDance được tổ chức vào tối mai mà Albert vừa thông báo. Nhưng những chuyện không ngờ tới thì lại luôn xảy ra, Shilvia báo với Hel là ngày mai con bé sẽ tới dinh thự Bollevard cùng ông ngoại.
– Hay tớ đi cùng cậu?
Hel khoái chí với ý tưởng nó vừa nghĩ ra
– Không được!
Hai từ rành rọt buột ra từ chính miệng Shilvia khiến Hel ngạc nhiên không tả, từ trước đến nay, Shilvia chưa từng từ chối Hel chuyện gì và điều đó khiến Hel càng thắc mắc:
– Tại sao? Tại sao không được? – Hel hỏi với một giọng như muốn nổi đoá
– Hel không nên đến đó, Hel không được đến, không thể được
Shilvia nói như thì thầm, bàn tay phải băng bó vẫn giữ chặt tấm thiệp mời của quý ông Bollevard. Hel im lặng quan sát sự kì lạ của em gái và chợt cũng cảm thấy một chút bất an, khi con bé định nói thêm gì đó thì Shilvia đã ngăn lại bằng một đề nghị:
– Shil sẽ đi đến bữa tiệc này còn Hel hãy đi với anh hai nhé!
– Không vấn đề gì chứ Shil, tự dưng tớ thấy lo, cậu làm tớ lo…
– Không sao đâu, dù gì thì…mọi chuyện cũng đã được sắp xếp hết rồi.
Nói xong câu đó Shilvia đứng dậy và đi đến phòng mỹ thuật, con mắt trái băng bó giờ đây đang nháy liên tục, con bé cảm thấy càng lúc càng nặng nề. Ngồi trước một bức chân dung khổ lớn phác thảo theo trí nhớ thật hoàn hảo mà chính mình là tác giả, Shivia cảm thấy nhẹ cõi lòng, bố mẹ đang nhìn nó mỉm cười. Shilvia đưa tay chạm nhẹ vào những nét than chì mà cảm tưởng như làn da mượt mà mát lạnh của mẹ nó, ánh mắt bố đang dõi theo hai mẹ con đầy ấm áp. Dải băng quấn quanh mắt trái bất chợt tuột ra và rơi xuống nền đất, Shilvia đứng dậy bước tới bên cửa sổ lớn. Bên ngoài, bản hoà tấu ánh trăng huyền ảo cùng gió đang bao trùm lên cả không gian và cảnh vật.
…………….
– Chúng ta sẽ tới đó đúng giờ, hãy cứ bình tĩnh nhé cháu gái, không sao đâu
McDako quay qua lại, khi cầm chiếc áo thì lại bỏ mũ xuống, khi đội mũ lên thì lại đi tìm áo nhưng lão vẫn không quên nhắc nhở dặn dò cháu gái mình phải thật bình tĩnh và tự nhiên. Còn Shilvia trong bộ váy đen đơn giản mà con bé vẫn thường vận, một bông ly trắng làm bằng vải mềm khéo léo cài trước ngực, thêm một chiếc mũ trắng có vành đen, khuôn mặt bình thản với con mắt trái và bàn tay phải băng bó.
– Ông! Người nên bình tĩnh bây giờ phải là ông.
Con bé nhẹ nhàng nói khi đưa chiếc áo măng tô dài cho ông nó.
– Cảm ơn cháu! Nào, ta đi thôi!
McDako nhanh chân đi ra xe trước. Shilvia cũng lặng lẽ bước theo sau ông nó, Hel cùng hai ông anh đã rời nhà tới bữa tiệc BreakDance đường phố từ 1 tiếng trước và không quên dặn con bé cẩn thận còn hứa sẽ mua quà về. Trong thâm tâm, Shilvia rất muốn được cùng Albert và Hel tới bữa tiệc đó, mong muốn và những điều vui vẻ luôn mang lại nhiều cảm hứng cho con bé. Nhưng sự thật thì nó đang phải theo ông tới một bữa đại tiệc mà nó là một trong những khách mời đặc biệt danh dự, một bữa tiệc của những người có cùng mối quan tâm như nó, hội hoạ, vậy mà con bé lại chẳng cảm thấy một chút hào hứng nào, ngược lại còn thấy bất an và khó chịu. Chiếc BMW đời mới đang chờ hai ông cháu, chỉ chờ đến khi vị chủ nhân nhỏ tuổi bước lên, viên tài xế lâu năm đóng cửa lại và chiếc xe ngay lập tức làm phận sự một cách cần mẫn. Sau khi hỏi ý kiến của cháu gái và nhận được sự đồng ý nhanh chóng đến đáng mừng, McDako đã cho đóng hộp cẩn thận bức tượng thần Venus có tay và chuyển ngay đến dinh thự Bollevard làm quà cho vị chủ nhân già đầy quyền uy ở đó.
Con đường đến dinh thự Bollevard vắng vẻ đến đáng sợ, trời đã chuyển sang đen đặc dù có dùng đèn xe chiếu sáng hết mức có thể thì cái mà những người ngồi trong xe có thể nhìn thấy là khoảng sáng phía trước được đèn chiếu cách xe chưa đầy 3m. Viên tài xế đã phải dùng toàn bộ kinh nghiệm lái xe cố gắng đi thận cẩn thận với vận tốc chuẩn nhất ông ta có thể căn để đến nơi đúng giờ. Không nhìn thấy bất cứ gì, ngay cả trăng và sao cũng không có, thật kỳ lạ vì mới đêm qua trăng còn rất sáng, ngập tràn các vì sao chen lấn nhau để có một chỗ đứng trên bầu trời và hôm nay là một ngày nắng đẹp không có mưa. Shilvia nhấn nút gần bên tay để kéo cửa kính xe xuống, một làn gió nhẹ lạnh thấu xương lùa vào khiến con bé run rẩy vội vàng đóng cửa lại. McDako thì không quan tâm đến thời tiết cũng như khung cảnh bên ngoài, giờ đây lão bồn chồn như ngồi trên đống lửa, chốc chốc lại lấy chiếc đồng hồ quả quýt bằng vàng loại cổ có từ nhiều thế kỷ trước ra xem giờ, lão sợ sẽ làm mất lòng quý ông Bollevard ngay trong bữa đại tiệc đầu tiên. Cuối cùng thì McDako cũng được an ủi đôi chút, dinh thự Bollevard đã hiện ra trước mặt họ, chiếc xe từ từ tiến vào cánh cổng lớn đã mở sẵn đón chờ các vị khách. Nếu chỉ gọi nó là dinh thự thôi thì hoàn toàn sai lầm hoặc chủ nhân của nó đang cố tỏ ra thật khiêm tốn bằng cách hạ thấp nơi ở của mình xuống chỉ còn là mức dinh thự. Một toà lâu đài bằng đá khổng lồ khiến các vị khách cảm tưởng như đang quay trở lại Pháp vào những thế kỷ XVI-XVII. Ánh sáng chói loà của hàng nghìn cây đèn và nến khiến toàn lâu đài bừng sáng thể hiện một sự uy nghi giữa màn đêm đặc quánh và một không gian trống trải. Shilvia phải lấy tay che con mắt không băng bó để tránh bị loá và khi đã dần quen với ánh sáng, con bé có thể quan sát toàn cảnh toà lâu đài kỹ hơn. Lâu đài Bollevard nằm trên một khu đất cao và lớn với con đường độc đạo duy nhất dẫn đến, sau khi vượt qua cánh cổng đá lớn, các vị khách vẫn phải ngồi trên xe đi khoảng hơn 1km nữa để tới toà nhà chính và cứ cách 50m lại có một cặp vệ sĩ mặc comlê đen đứng đối diện ở hai bên đường. Đèn được thắp ngập tràn khắp nơi để khách có thể nhìn ngắm thoả thích toà lâu đài rực rỡ vào ban đêm. Khuôn viên rộng lớn nhưng thưa thớt cây cối, thay vào đó có rất nhiều các bức điêu khắc khổng lồ bằng đá, đồng và nhiều loại vật liệu rải rác khắp nơi trong khu vườn vĩ đại. Kiến trúc Pháp cổ thể hiện rõ qua từng đường nét trạm trổ trang trí trên mỗi góc cạnh của lâu đài. Thật sự đó là một kiệt tác nghệ thuật nhưng Shilvia chỉ ngắm nhìn và cảm nhận sự lạnh lẽo toát ra từ nó, trái ngược với sự thu hút của toà lâu đài là cảm giác rùng rợn đến nổi da gà, những vật trang trí trên mái và trần lâu đài chủ yếu đều là các con yêu tinh, ma cà rồng, dơi và quỷ sa-tăng. Những bức tượng ở hai bên lối vào cửa cũng là những tiểu quỷ cầm chĩa. Shilvia và ông nó xuống xe, đi bộ vào cửa chính, một người hầu nam mặc comlê chỉnh tề, tay đi găng trắng cúi chào hai người và xin được phép cất mũ áo giúp họ. MacDako trao áo khoác và mũ cho viên hầu còn Shilvia muốn giữ lại chiếc mũ, đó là quà sinh nhật Albert tặng nó hồi năm ngoái. Khi viên hầu rời đi để cất đồ, Shilvia chú ý đến những bệ để đồ bằng gỗ, phía trước chúng được trạm trổ rất công phu, một tác phẩm hoàn chỉnh về một phụ nữ với khuôn mặt đau khổ, bà ta đang kêu gào bằng tất cả sức lực còn lại của mình, một khuôn mặt kinh hoàng và đau đớn nhất như vừa mất đi thứ gì còn quan trọng hơn chính mạng sống của mình. Shilvia nhăn mặt trước bức tượng, nó khiến con bé nghĩ đến bức tranh “Địa ngục” của Mikell và nó hoàn toàn không thích. Con bé thích nỗi buồn được thể hiện trong tác phẩm, có thể là một chút đau khổ nhưng phải luôn có một đốm sáng dù rất nhỏ trước mỗi nỗi khổ đó chứ không phải là sự đau đớn tột cùng không lối thoát thế này, nó thật sự khó chịu trước điều đó. Shilvia luôn nghĩ rằng, nghệ thuật và cuộc sống luôn gắn liền với nhau, các tác phẩm thể hiện tâm trạng và bản thân nghệ sỹ cũng như đem lại cho người xem những cảm xúc của chính mình. Có gì hay ho, có gì thích thú khi nhìn một ai đó, một thứ gì đó dù chỉ là trong tranh đau khổ và giằng xé, tại sao không đem lại cho họ hy vọng thay vì tước đi của họ những gì quý giá nhất.
Hiện tại hai ông cháu McDako đang đứng giữa một căn phòng rộng đến không ngờ và ngập trong đó những trang phục sang trọng nhất thể hiện cấp bậc của chính những con người mặc chúng. Trần nhà treo một chiếc đèn chùm vĩ đại với hàng nghìn bóng đèn toả sáng rực rỡ, khắp căn phòng, những kệ nến cũng đang làm việc hết công suất, những cây nến chỉ vừa cháy hết một nửa đã được thay ngay bằng những cây mới. Dọc hành lang và quanh căn phòng, những người hầu nam đứng nghiêm trang trong tư thế sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của khách, những cô hầu gái bận bịu với việc bưng bê và mời khách dùng rượu vang cũng như đồ ăn. Sự thật thì căn phòng không có gì đáng nhắc đến nếu nó không khoác lên mình bộ sưu tập nghệ thuật của dòng họ Bollevard. Những bức tranh treo kín đặc trên tường, được chia thành từng khu và sắp xếp theo chủ đề, những bức điêu khắc và các tác phẩm giá trị khác được đặt quanh phòng hoặc trưng bày trên các bệ không có lồng kính, các vị khách có thể thưởng thức chúng thật thoải mái thậm chí quý ông Bollevard còn hào phóng cho phép các vị khách mời chạm vào chúng, cầm chúng lên và xem xét kỹ lưỡng. McDako cảm thấy hoa mắt trước khung cảnh tráng lệ của những tác phẩm nghệ thuật tuyệt đỉnh tưởng như đã hoàn toàn biến mất. Lão đang chớp mắt liên hồi như để chắc chắn rằng mắt lão vẫn hoạt động tốt và rồi đưa đôi bàn tay run rẩy chạm vào bức điêu khắc “Tình nhân” của Ấn Độ vào khoảng thế kỷ XIII, lão đã từng thấy nó trong viện bảo tàng nổi tiếng Le Louvre của Pháp.
– Liệu đến bây giờ, có ai biết được cái nào là thật, phải không ngài McDako?
McDako giật mình quay lại, một người quá quen thuộc, lão nhìn người đó với đôi mắt bình thản:
– Mikell, vậy là cậu cũng đến rồi.
Mikell với dáng vẻ bất cần, một tay đút túi quần, một tay giữ điếu thuốc, gã thở ra một hơi dài những bụm khói tròn. Bộ quần áo sang trọng mà Frank đã chuẩn bị trước cho gã dường như cũng không làm gã khá lên chút nào, Mikell đã vứt chiếc cà-vạt đi đâu mất rồi.
– Vâng, thư ký Frank đã đưa tôi đến đây nhưng ông ấy đã về rồi, lát nữa tôi có thể quá giang ngài được không?
Khoé môi Mikell khẽ nhếch lên, gã không quan tâm cho lắm với tất cả những kiệt tác tại đây, với gã thì đó chỉ là những gì thuộc về quá khứ, gã muốn thách thức với tất cả và tạo ra một phong cách đương đại riêng biệt cho chính mình. Nhưng điều đó không có nghĩa Mikell coi thường các bậc tiền bối, gã thuộc làu và có thể giới thiệu chính xác từng tác phẩm trong bộ sưu tập của quý ông Bollevard. Chính điều này đã khiến McDako coi trọng gã hơn. Một thoáng lướt mắt, Mikell đã nhận ra hầu hết các danh hoạ nổi tiếng. McDako cũng đưa mắt sành sỏi dừng lại ở từng bức tranh cổ quý giá như Guernica của Picasso được hoàn thành năm 1937 và bức sơn dầu “Sao đêm” năm 1889 của Van-Gogh, đó đều là những tuyệt tác mà các hoạ sỹ thiên tài để lại cho nhân gian.

Trong khi Mcdako và Mikell cùng đứng đó với những suy nghĩ khác nhau, Shilvia cũng đã tìm được một góc riêng của nó, yên bình mà thưởng thức một bữa tối đầy nghệ thuật. Sau chặng đường dài không mấy dễ chịu để đến được lâu đài Bollevard, Shilvia bỗng cảm thấy đói lạ thường. Thật là thiếu sót khi không có đôi lời bình luận về vấn đề hậu cần bếp núc tại bữa đại tiệc này. Chúng ta đều biết quý ông Bollevard không phải là một người bất cẩn đến nỗi mời khách quý đến chỉ để thưởng thức bộ sưu tập khổng lồ của dòng họ và ăn những món ăn tầm thường. Điều đó là không thể! Những món ăn tầm thường là gì, nếu xét theo quan điểm của quý ông Bollevard thì không ai biết được, thậm chí điểm tâm của quý ông vào mỗi sáng cũng được đặt trong khay bạc đậy kín không người hầu nào nhìn thấy, hoạ chăng chỉ có vị đầu bếp đã nấu nó thì rõ mà thôi. Trở lại với bữa tiệc, có thể nói, nghệ thuật tồn tại ngay trong những món ăn, không phải nghệ thuật ẩm thực như chúng ta đã biết, mà là sự kết hợp đặc biệt cổ quái giữa hương vị thức ăn với việc trình bày trang trí nó ra sao. Một cô hầu gái với nét mặt tươi tắn, tay bưng một bảng màu, mỗi ô màu chứa một ly thuỷ tinh màu sắc khác nhau, trong suốt, cô lễ phép mời khách dùng. Bất cứ ai cũng ngạc nhiên, lúc đầu, và sau rồi tỏ ra thích thú, thật tất cả mọi thứ nơi đây đều mang đậm sắc màu hội hoạ. Các loại rượu và nước hoa quả đều được tinh chế với vị ngon miễn chê và màu sắc tuyệt mỹ. Loại vang lâu đời nhất, chôn sau trong hầm hàng thế kỷ cũng được mang lên mời khách, nhưng không phải từng thùng, từng chai mà là từng dòng, từng giọt. Bức tượng cô thiếu nữ Ấn Độ quỳ trong bồn nước với chiếc bình trong tay đang rót xuống, đó là một trong những vòi rượu vang nguyên chất được đưa từ hầm rượu lên. Bất cứ vị khách nào muốn thưởng thức chỉ cần đưa ly ghé vào miệng bình và họ đã có một ly rượu trị giá 10.000$, họ có thể uống thoả thích. Rượu rớt xuống từ bình được chiếc bồn hứng lấy và đưa ngược xuống, nếu không phải ai vô tình hay cố ý làm đổ vài ly rượu thì việc không có bất cứ giọt rượu nào rơi rớt ra ngoài là hoàn toàn bình thường.
Nếu DaVinci sống lại hẳn ông sẽ rất lấy làm ngạc nhiên và vinh hạnh được nếm một phần kiệt tác của mình thật ngon lành. Tất cả các con mắt đang đổ dồn vào nụ cười Monalisa khi người ta bê nàng ra, trên một chiếc khay vĩ đại và đặt nàng vào chính giữa bàn ăn. Nụ cười ngọt ngào theo nghĩa đen ẩn chứa bên trong sự bí hiểm bởi công thức của người đã tạo ra nàng. Chiếc bánh sôcôla nhân hoa quả to nhất mà chúng ta từng thấy thật sự đang nở nụ cười mà hàng trăm năm nay không ít người bỏ cả cuộc đời ra tìm hiểu và nghiên cứu. Một số người đang tự hỏi không hiểu Van-Gogh sẽ nghĩ sao khi “Giỏ khoai tây” sơn dầu của ông đang dậy mùi thơm của đùi gà quay và “Đôi giầy” cũ ẩm mốc của ông lại được người đương đại thưởng thức như món thịt cừu nướng mềm mại quyến rũ. Liệu Levitan có giật mình khi thấy không khí “Mùa thu vàng” đầy trong sáng và đượm buồn của mình nay đang mang lại sự thanh khiết ngọt ngào và hạnh phúc trên khuôn mặt mỗi người nghiện ăn Caramen. Khách mời còn có thể thưởng thức “Bát trái cây” thật sự của danh hoạ Paul Cezanne (1839-1906), những mảng kẹo đường và kem bông lạnh như mặt hồ phẳng và những lọn mây trắng trong một bức tranh phong cảnh hàng thế kỷ trước. Và nếu có ai để tâm một chút khi đi qua khu vườn, dừng mắt quan sát những bình hoa được trang trí quanh phòng tiệc hẳn người đó sẽ cảm thấy mình như đang bước vào thế giới ấn tượng của Monet.
Quý ông Bollevard là con người nghiêm túc nhưng cũng không vì thế đánh mất sự hài hước mà ít nhiều là do ảnh hưởng của hoạ sỹ trứ danh Magritte. Shilvia đã phải giữ cho một quý bà thật bình tĩnh khi mà thay vì khuôn mặt, bà lại đang ngắm vuốt cái gáy của mình qua tấm gương trong phòng vệ sinh. Có lẽ tại một phòng vệ sinh khác, cũng có những người đang giật mình hoảng thốt và rồi bất chợt nhận ra mình thật ngu ngốc sao, ý nghĩa của một bức tranh Magritte chính là để người xem nhận ra được một điều gì đó từ bản thân, từ tất cả mọi người, từ cuộc sống, bất cứ chuyện gì cho dù là nghiêm túc nhất cũng có sự ngớ ngẩn và hài hước của riêng nó. Những trò đùa nghịch qua tranh của Magritte thể hiện một tinh thần lạc quan được bày ra thật tinh tế, đó cũng chính là mục đích của quý ông Bollevard.
Một chút suy ngẫm để đánh giá lại về vị chủ nhân già của toà lâu đài qua những mưu tính đầy ý nghĩa và hài hước của ông, Shilvia tách ra khỏi bữa tiệc và đắm mình trong không gian tĩnh lặng của một góc ban công vắng vẻ trên lầu hai. Nhìn ánh trăng vàng vọt phát ra những tia sáng trắng lạnh, Shilvia lại rùng mình, cái cảm giác giống như bị cơn gió lạnh lùa vào cơ thể, như bị đoạt mất những hơi ấm cuối cùng. Quen dần với không khí lạ lùng của toà lâu đài nhưng Shilvia vẫn cố gắng không nhìn đến những trạm khắc tiểu quỷ trên trần nhà. Con bé tiến đến gần lan can để có thể nhìn rõ hơn toàn bộ khung cảnh huyền ảo bên dưới, nó ước có Albert và Hel có ở đây, tự hỏi bây giờ hai người đó đang làm gì.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s